MẸ CẢ – GIẤC MỘNG CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ SINH RA TỪ LÀNG

Đến một ngày, “kẻ” ấy xuất hiện – Nguyễn Huy Thiệp – kẻ ưa đề từ cho mỗi câu chuyện của mình bằng “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, và bạt sau mỗi chương bằng lời thiết tha kiếm tìm “Con gái thủy thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi…” thì người ta bắt đầu lờ mờ nhận ra, tồn tại một thế giới nội tâm huyền bí nơi những đứa trẻ từ làng bước ra, phức tạp, kì ảo, khó nắm bắt như nhân dạng của Mẹ Cả.

Nguyen Huy Thiep - Wikivietlit
Chân dung Nguyễn Huy Thiệp – Tranh của Nguyễn Đình Đăng

Nguyễn Huy Thiệp không từ chối một chất liệu tuổi trẻ nào trong những tự sự của mình. Ông xuyên không từ miền cổ tích của chàng Trương Chi nghẹn ứ trong chính tiếng hát của mình tới những cảnh quan chính trị ngợp thực dụng mà Nguyễn Thái Học phải lấy cái chết để bao bọc cho lý tưởng cách mạng của mình. Ông men theo từ cái trống rỗng hóa man dại của miền núi nơi cô gái mười sáu tuổi vừa dửng dưng vừa bất mãn bổ nhát rìu xuống đầu bố mình, cho đến những sáo mòn vờ như là yên ả khiến những Ngọc, những Chương, những Nhâm nhiều phen giật mình thon thót, quằn quại giữa ruộng đồng, đất trời, rồi cả những giả tạo thuộc phố thị buộc những cậu quý tử sáng láng phải bỏ nhà đi lang vì chán chường, nhàm tẻ giữa cái nôi gia đình (như là) êm ấm. Mỗi không gian như cái nôi dung chứa trong nó một kiểu tuổi trẻ. Trong văn học, trước Nguyễn Huy Thiệp, khi chạm gần thể kỉ hai mươi, đã thấy xuất hiện nước mắt của cô Kiều ở lầu Ngưng Bích hay người chinh phụ ngồi trước gương tiếc rẻ một tuổi xuân đang trôi đi. Tới thập niên hai mươi, văn chương Tự lực gom lại được một nhóm hình tương nhân vật để tạo dáng cơ bản cho lứa gọi là tuổi trẻ, bắt đầu xuất hiện rành rọt diện mạo của các nam nữ thanh niên Hà thành biết yêu, biết say đắm, biết chống đối, biết thế nào là nỗi buồn lãng mạn hay những lí tưởng đèm đẹp nhưng trừu tượng, xa vời. Nhưng từ Thúy Kiều, Kim Trọng của Nguyễn Du cho đến những Tố Tâm, Đạm Thủy, cô Loan, cậu Dũng của Tự lực văn đoàn mới chỉ là những mảnh tuổi trẻ phần nhiều mang dáng điệu của thị thành, “thân sinh” ra họ, tức tác giả văn chương mang dung mạo của nhà nho tài tử chốn kinh thành hoặc lứa nhà văn tân thời được nuôi nấng, âu yếm trong cái nôi phố xá mới hình thành lên ở thế kỉ mới. Làng quê thì nghèo, cái màu bờn bợt của những gương mặt nhăn nhó trong cái đói, cái bần hàn, cơ cực tự lúc nào làm triệt tiêu đi những khả năng của một cú lia máy chậm từ nhà văn tới những gương mặt trẻ tuổi, tiềm tàng sức sống đang trưởng thành. Đến một ngày, “kẻ” ấy xuất hiện – Nguyễn Huy Thiệp – kẻ ưa đề từ cho mỗi câu chuyện của mình bằng “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, và bạt sau mỗi chương bằng lời thiết tha kiếm tìm “Con gái thủy thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi…” thì người ta bắt đầu lờ mờ nhận ra, tồn tại một thế giới nội tâm huyền bí nơi những đứa trẻ từ làng bước ra, phức tạp, kì ảo, khó nắm bắt như nhân dạng của Mẹ Cả.

Huyền thoại.

Thế giới nội tâm huyền bí của những đứa trẻ từ làng, trước tiên, có lẽ được bắt nguồn từ cái huyền thoại của không gian vây bủa chúng, ngấm dần trong tiềm thức để làm chất dinh dưỡng nuôi những thơ ngây, kèm đó là cả những ngô nghê và dại dột. Chỉ có nông thôn mới bao chứa tuổi trẻ bằng huyền thoại của chính nó, đó không phải một thứ fantasy trong một tiểu thuyết trên sách vở đặt ở thư viện và những kệ gỗ trưởng giả nơi thành thị. Làng, nghĩa là không giống “thị”, không giống chợ, không phải nơi để di chuyển, bán mua, mà là cái cột trụ lưu giữ kí ức. Huyền thoại ở làng, nó là những truyện kể, cổ tích, thần thoại, là những lời đồn, nó là mùi hương khói bao quanh đền đài miếu mạo, nó là cái bóng lập lòe của những cây đa cây đề cây gạo, nó là một làn gió lạnh rờn rợn giữa đêm nơi bến sông, nơi cánh đồng, nơi bãi tha ma. Ở Chương trong Con gái thủy thần, đó là ám ảnh về người con gái thủy thần suốt một thời niên thiếu đến tận mãi mãi về sau. Ở nhân vật “tôi” trong Chảy đi sông ơi, đó là hình ảnh của một con trâu đen kì diệu trong truyền thuyết mang một “sức lôi cuốn lạ kì.” Hoặc trong Cánh buồm nâu thuở ấy, đó là hình ảnh của một “cánh buồm nâu no gió, mùi mắm cốt sực nức bay là là ở trên mặt sông, len vào ngõ.”mà cô gái trẻ tên Nhi mải miết chạy theo với một giấc mộng cổ tích về chàng hoàng tử bước xuống tử một con thuyền. Giọng văn của Nguyễn Huy Thiệp thường xuyên là thứ thanh âm sắc lạnh, dửng dưng tới phũ phàng, nhưng hễ khi cần phải động chạm tới mảnh ấu thơ của những đứa trẻ ở làng, cái sắc lẹm ấy dịu dàng lại, không gồng, không xù gai mà mượt mà chuyên chở những hình ảnh của đồng, của làng. Đó là một đặc ân cho những cái tôi “sinh ra ở nông thôn” không thể có ở những đứa trẻ như Hiếu của Những bài học nông thôn, hay Khuê trong Tuổi hai mươi yêu dấu. Những đứa con sinh ra ở thành phố, luôn rỉ bên tai là lời dặn dò của những ông bố nửa trí thức nửa thô kệch rằng: “đồ chó, rằng nhà mày ở thành phố, tương lai của mày ở đấy” (Những bài học nông thôn), chúng phải có cơ hội được về tới chốn hoang vắng, để nhìn một cánh diều, hay chạm trán với cái bao la của bầu trời mới hay được trả về với vô tư. Thực hành giáo dục ưa thích của những bậc phụ mẫu cấp tiến là mỗi mùa hè, tới kì nghì, đều trả con về nông thôn, cho lên rừng xuống biến để mong đứa trẻ vốn đã quen với cái lộn xộn được cưỡi ngựa xem hoa, trải nghiệm vài tháng thử yên bình. Nhưng đó chỉ những thứ tập tành, một kì thực tập ngắn ngủi vừa kịp đủ để tuổi trẻ từ phố được thị thực cái bất ngờ, cái giật mình, thậm chí ngỡ ngàng khi nhận được cảm giác về tự do, và rồi chúng cũng chóng vánh quay lại đường ray chưa kịp trật để về với những kì học kế tiếp. Cả hai thực tế, cả những bề bộn của cảnh quan đô thành lẫn những xáo trộn mỗi ngày một thọc sâu vào những miền quê đang tiến tới đổi mới đều không đủ chỗ dung chứa cho đôi cánh cần được sải ra của những người sắp sửa cho trưởng thành. Chỉ có huyền thoại dẫu hư cấu nhưng đẹp đẽ, màu nhiệm mới làm được, chúng có xu hướng trở đi trở lại và tạo thành ẩn ức trong lòng những đứa trẻ để sau này, vịn vào mà phóng tầm mắt đến khoáng đạt. Kí ức là bệ đỡ của thực tại và tương lai. Một công trình ấu thơ dẫu được xây bằng những viên gạch tưởng tưởng vẫn là một cái móng nhà chắc chắn và an toàn. Dẫu những tưởng tưởng đẹp đẽ nhiều khi làm con người ta trở nên non nớt và cả tin. Nhưng “cả tin là sức mạnh”. Cái “cả tin” mà Thiệp vẫn dành cho người trẻ, đó là món quà. Còn cả tin nghĩa là còn tưởng tượng, còn giấc mơ, còn cái để ngưỡng về, còn chưa đầu hàng những thực dụng đang mon men xâm lăng vào bất cứ ngóc ngách nào của đời sống này.

Lặng im.

Nhưng cổ tích là lí tưởng, huyền thoại là được vẽ ra, đó là những điều kiện tuyệt đối để ra đề một bài toán mà mọi thứ đều tròn trịa như đặt giữa chân không bất khả xâm phạm. Còn thực tế thì lằng nhằng và phức tạp. Cái éo le của không gian của làng quê nằm ở nghịch lý: nó đủ rộng, thưa, vắng để cò bay được nhưng khốn nỗi, lại nghèo nàn, nên nhiều khi, cánh cò nặng nề và mệt nhoài quá, không cất lên nổi. Tuổi trẻ của những đứa trẻ sinh ra từ làng là thứ tuổi trẻ bị đè xuống im lặng, cái im lặng giữa mênh mông của những triền đê, cành đồng, bờ sông, bầu trời nhưng lại bị đóng sập lại sau một lũy tre làng. Những đứa trẻ nông thôn của Nguyễn Huy Thiệp lớn lên từ những sinh hoạt lam lũ không thoát đi đâu được khỏi những thành tố vật chất ngàn năm của làng quê: Nhâm đi gánh lúa, bắt ếch, Hiên giã gạo, Năng chăn trâu cắt cỏ, Chương “làm ruộng, đào đá ong và làm thêm nghề lột giang đan mũ.” Ngôn ngữ của chúng là những cấu trúc đơn, ngắn, cục mịch, vụng về, không hình ảnh, ít tu từ, ngồn ngộn ra ngoài cả lớp vỏ hình thức và nhúm ruột nội dung, không che đậy, rõ nhất là khi đặt nó trong những bối cảnh giao tiếp mà người phía bên kia thuộc về một không gian sống khác. Đơn của một hội thoại giữa cô gái tên Quyên, trở về làng từ thành phố, và Nhâm, 17 tuổi “sinh ở làng quê, lớn lên ở làng quê.”: “Nhà anh cấy bao nhiêu sào? Mỗi sào bao nhiêu thóc? Được bao nhiêu tiền?” – “Mỗi sào được hơn ba nồi, khoảng gần tạ, mỗi cân thóc một nghì tư.” – “Hai mươi triệu tấn thóc cho sáu mươi triệu người.” – “Có ai chỉ nghĩ đến ăn,”… Có ai chỉ nghĩ đến ăn, lời bạt của Quyên như lời quan tòa buộc tội chàng thanh niên của làng, buộc cái tuổi 17 cường tráng vào loanh quanh những phạm trù ăn uống căn bản đến trần tục, tầm thường. Nhâm không chỉ nghĩ đến ăn, cái mơ mộng, cả nghĩ của cậu đậy điệm trong những cái lồng màn, thứ nội tâm không tìm được lối bước ra đời sống. Xung quanh những đứa trẻ ở làng, ngay bên cạnh những huyền thoại, là bố, là mẹ, là hàng xóm, những người “chẳng bao giờ đi xa khỏi làng” với tâm niệm “ở đâu chẳng thế, chỗ nào cũng toàn là người.”, những người “hướng nghiệp” con cái mình theo nghề đan mũ để có việc quanh năm cho trẻ khỏi nghịch, những người không thể chịu đựng được nổi hai tiếng thi ca: “A… hóa ra mày làm thơ viết văn! Giời ạ! Thật là đồ chó… Mày định viết văn làm thơ dạy ai kia chứ” (Chú Hoạt tôi). Đó là những bàn tay vô hình thọc mạch và bóp nghiến mất những thanh âm có hồn trong tiếng nói của những đứa trẻ làng. Vẻ thủ cựu sồ sề của làng quê làm những đứa trẻ như Nhâm, như Chương ngần ngại với những thứ đầy hấp lực như một cô gái từ thành thị, hay cái mới mẻ, tinh tươm trong một manh áo mới: “Tôi ra giếng tắm, thay quần áo. Tôi lấy chiếc áo mới ra mặc, nhưng thấy ngượng nên thôi.” Đó là thứ mặc cảm không thể rũ bỏ được của một người nhà quê dù núp trong hình hài khỏe mạnh, đầy sức sống của một kẻ mới lớn. Những người cùng ở làng, họ có thể cười xòa với nhau, họ có thể chỉ ngồi đây mà giễu nhại về thứ ánh sáng tỏa ra từ phía thành phố mà họ chưa từng hiểu, chưa từng chạm vào, đó là vẻ tự tin hóa bảo thủ chiết xuất ra từ dưới những mái đình. Nhưng khi va chạm, khi đập phải những thứ từ bên ngoài, họ bất ngờ rúm lại thậm chí sợ sệt. Những tưởng tượng trong họ khó gượng được dậy bởi lòng tự ti về cái “vô danh” lẫn thô ráp của mình. Thi ca của những Chương, những Nhâm chảy thượt, ướt đẫm từng trang của Nguyễn Huy Thiệp, chúng không phát ra âm thanh, chúng dài vô tận nhưng vô hình. Những đắm say, mê mải của Chương trước cô gái tên Phượng cũng chỉ co rút lại thành một câu đơn vỏn vẹn: “Không phải đâu. Cô đẹp lắm.” Không ai hay vẻ đẹp của Phượng trong Chương, chỉ có tay nhà văn bỏ ngoặc kép đi để kể riêng với bạn đọc rằng, ngày hôm đấy, sau đờ đẫn, sau ngất ngây từ một cái hôn, cái chàng trai thô ráp, nặng nề tên Chương ấy nhìn thấy trăng rất sáng. Những đứa trẻ lớn lên giữa ánh sáng của đô thị như Khuê sớm mang dung mạo của những nhà tư tưởng tự thân, những triết lí dù còn nhiều méo mó nhưng luôn có cái vẻ của sự ngạo mạn, kiêu hãnh, và nó bộc ra thành lời, và hành động. Nội tâm của một tuổi trẻ nơi làng bị kẹt lại mãi phía bên trong, đuổi nhau như những đợt sóng liên tiếp mà không thể trào vọt lên, nó mãi mãi ở đó, cùng vòng quay nan hoa của chiếc xe đạp Nhâm đi về phía nhà ga, nơi mập mờ lằn ranh giữa huyện lị và một làng quê vô danh, và thi ca ở của Nhâm, thứ mà người nhà quê vừa ghê tởm vừa sợ hãi, cất lên mông lung:

“Tôi nghĩ
Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Sự bất lực của hình thức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất
Những số phận hiu hắt đầy mặt đất
Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được….”

(Trích – Thương nhớ đồng quê)

Sự bế tắc của ngôn từ là có thật. Không có vở kịch nào của Nguyễn Huy Thiệp có nhân vật người nông dân, những người trẻ từ làng càng không, bởi kịch là vùng đất để lên tiếng, để phát ngôn. Còn tuổi trẻ ở làng, chúng phải chịu số phận của im lặng như sự ngủ quên sâu trong lòng sông của con trâu huyền thoại. Con trâu đẹp đẽ đó đã rất khó để ngoi lên.

Ra đi.

Những tiếng nói phải chịu sự tự nín và tự diễn biến trong thinh lặng ở tuổi trẻ, chúng đòi được nói hộ hoặc một xúc tác, một cú hích để bật ra thành lời. “Ở nhà quê sợ nhất là buồn chán, người cứ bã ra…” (Những bài học nông thôn) Là Hiên, cô gái của làng quê đã thủ thỉ với Hiếu như vậy trong khi cùng giã gạo. Bất cứ ai đều có thể quên mình mà tập làm quen với nhàm tẻ, biến sự đều đều của đời sống mình thành đương nhiên và chấp nhận nó. Nhưng tuổi trẻ là một mùa đặc biệt của đời người, và những đứa trẻ mười sáu, mười bảy cho đến đôi mưa khi đứng giữa những hiệu ứng lặp đi lặp lại, chúng không cam chịu, không thỏa hiệp với cái “bã ra”, cái vữa ra hay mùn mủi ở bản thân mình. Cái cảnh quan buồn buồn đến bã ra của làng quê đã hiện diện ở đây cả nghìn năm, nó làm cho những bối cảnh của làng của Nguyễn Huy Thiệp nhìn qua hình như không có thì, không rõ một nông thôn của quá khứ, hiện tại hay giả tưởng ở tương lai. Nhưng những người trẻ – những sinh vật mà các tế bào của nó đang nở ra, dịch chuyển và đòi được nở ra từng ngày làm sống động lên cái quang cảnh không rõ cũ mới đó. Một cô gái như Hiên phải chờ đến cuộc gặp với Hiếu để có thể nói toạc ra cái buồn chán của làng quê, để chứng tỏ mình đã không vô tư chung sống với nó như với những nhịp đập đều đều của cỗ máy xay gạo. “Tôi đã định tự tử vì buồn chán quá.” Hiên tâm sự. “Tôi nằm một mình ở ruộng ngô, giữa tổ kiến vàng. Tôi tưởng kiến vàng đốt thì nhất định chết. Thế mà không chết. Nó thương mình hay sao chứ? Chắc nó thấy tôi trẻ quá mà chết thì phí.” Những kiến giải về tuổi mình đến bật cười nhưng chua xót. Tuổi trẻ có thể tự tử chỉ vì lí do buồn chán quá. Những cô gái ở nông thôn quanh năm giã gạo có thể không diễn thuyết được về tự do, về lí tưởng sống, nhưng sẵn sàng nhảy vào ổ kiến vàng để tự mình kết liễu “nỗi buồn vĩnh cửu”. Sự tẻ nhạt, vô vị của đồng quê có thể giết chết một đứa trẻ đang lớn mà không một ai hay. Hiên chưa thể là nữ chính dữ dội của một vở kịch nào, lời kể của cô gái hai mươi chỉ siết vào một lát trong câu chuyện của Hiếu, nhưng nó là báo động, là tiếng chuông cảnh cáo cãi “bã ra” của làng quê đang hằn đau đớn lên da dẻ của tuổi trẻ từng ngày. Nó âm ỉ như cái râm ran nhoi nhói của một ổ kiến vàng. Nông thôn chỉ thực sự nhói lên cảm giác về sự buồn chán khi nó bị đâm một mũi tên xa lạ và mới mẻ với nó từ bên ngoài vào. Sự buồn chán cả nghìn năm chỉ thực sự bị đe dọa và chịu áp lực khi mở cánh cửa của nó ra cho một làn sóng đô thị ấp vào. Nhâm có lẽ chỉ nhận ra cái vô danh của đồng quê khi ra ga để đón cô em họ tên Quyên học Đại học ở Mỹ về, khi trông thấy cái ánh sáng lấp lòe của hàng quán ăn uống, giải khát chiếu vào những góc khuất tăm tối của làng quê, làm chúng lộ ra trần trụi, và tiếng còi hú từ những toa tàu đầy hành khách đánh động vào yên ắng nhưng không yên ả của làng. Làng quê ở thời của những đứa trẻ trong sáng tác của Thiệp đã không còn là mẫu hình trong cổ tích, trước kia, một cánh đồng không ồn ào không có nghĩa là một cánh đồng “vô danh”, nó có bản sắc dẫu “nhà quê”. Cái vô danh không đến từ hai thái cực đối lập của chuyện thành phố càng sáng, càng rõ thì làng quê càng tối, càng vô hình. Cái vô danh của những cánh đồng không còn rõ điểm bắt đầu của mình đến từ sự lai căn, biến tướng của những làng quê không giữ được yên bình. Thành phố sáng đèn, nhưng ánh sáng của nó còn lần mò tới làng quê, bóp méo, quẫy đảo những gì vốn tưởng là huyền thoại, là “vĩnh cửu”. Huyền thoại về con trâu đen đã từng là cả một bầu trời tuổi thơ của nhân vật trong Chảy đi sông ơi, nhưng ở nhịp sống đương đại này, con trâu cũng đi theo bước chân của “tôi” lên thành phố với một “cuộc sống trưởng giả” và “các nhu cầu thiết thực” bao bọc, huyền thoại ấy cũng sẽ dần phai nhạt đi như một quy luật tất yếu. Tiếng gọi “Đò ơi… ơi đò! Đò ơi! Ơi đò!” vang lên ráo riết bên tai của nhân vật trẻ thơ năm nào nay đã trưởng thành giống như một tiếng gọi, tiếng kêu cứu của một nông thôn, một làng quê với bến đò và cây gạo đang đối mặt với một nỗi lo lắng khủng khiếp: những biểu tượng vẫn còn hiện diện ở đó nhưng những ý nghĩa đẹp đẽ đang dần mất đi, tan biến trong đời sống hiện tại. Nông thôn của một thời từng đóng vai trò điểm tựa, là bệ đỡ, là nơi “ở ẩn” cho con người tìm về khi không thể chịu đựng được bụi bặm và những xô bồ của đời sống kinh thành, nay đã không còn đủ vững chắc nữa. Nó đang bị chính những đứa con đang lớn của nó phủ định “không khí u uất, tù đọng của làng quê làm tôi tái tê cảm giác chua xót”, “tôi chẳng có gì cả […] tôi là con số không”. (Con gái thủy thần). Trước cái tù đọng, có thể Nhâm vẫn ở lại gánh lúa, Năng vẫn chăn châu cắt có, Hiên sau khi tự tử bằng ổ kiến lửa bất thành, vẫn sẽ tiếp tục đồng áng và lấy chồng, nhưng, luôn có “nhưng” ở tuổi trẻ, nhưng một vài trong chúng – những đứa trẻ từ làng sẽ bỏ đi. “Sau đêm hát chèo ấy, chị Nhã tôi bỏ nhà đi. Chị Nhã thông minh nhất nhà, chị đã nhận ra một thế giới khác ở chân trời khác dưới tấm áo xanh đỏ tím vàng của đám diễn viên sân khấu kia” (Chú Hoạt tôi). Mười tám tuổi, Nhã bỏ đi vì một đoàn chèo đi lưu diễn, vì thèm tấm áo xanh đỏ như “hai đứa trẻ” của Thạch Lam thèm một thứ nước xanh đỏ của thành phố. Sự ra đi, sự dịch chuyển, đó là nổi loạn, đó là thách thức, đó là phản kháng, là bất mãn và là quyết định không đồng ý thỏa hiệp với nỗi buồn chán cố hữu. Những chuyến đi của những đứa trẻ từ làng xuất phát từ nhu cầu và thèm khát những chân trời mới, từ niềm tin có thể thực dụng rằng, phía sau những dãy nhà cao tầng, những đường xá đông đúc người và hàng quán, những ánh sáng không tắt dù ngày hay đêm nơi thành thị sẽ dung chứa một thứ huyền diệu kiểu mới khác với cổ tích về một con trâu đen quanh năm ngụp lặn– “đối với bọn con gái chúng tôi, thành phố chính là tuổi xuân, là danh vọng, là thiên đường, là một ông chồng, là những hy vọng…” (Những tiếng lòng líu la líu lo), hoặc ngây thơ như Chương, tin rằng Mẹ Cả rất có thể ở kia, đâu đó trong thành phố này. Đó là những tưởng tượng về đô thị của những đứa trẻ nông thôn, rằng nơi đó như là một không gian khác cứu rỗi được cái bần hàn, luẩn quẩn đã chôn chân hàng trăm, hàng vạn thế hệ ở làng. Nhưng càng chạm tới gần với những tưởng tượng, những tưởng tượng càng bị co rút lại. Rồi những cô sinh viên cũng sẽ sớm nhận ra, phía sau lớp áo quần hào nhoáng, bóng bẩy của thành thị chỉ là cái hôi hám, bẩn thỉu, tạp nham của một khu nhà trọ đầy mùi mồ hôi, mùi da thịt con gái và mùi xú uế nhưng lại luôn nỗ lực trang điểm cho mình một vẻ ngoài tiệm cận với khái niệm sành điệu. Rồi thì Chương, sau đủ những trải nghiệm cực nhọc, ê chề của ba chương truyện đi tìm Mẹ Cả, sau những cố gắng vượt thoát ra khỏi cái tuần hoàn xuân-hạ-thu-đông của làng quê để vươn ra thành phố, tiến về biển, rốt cục cũng phải tạm đưa ra kết luận về sự “vĩnh cửu” của nỗi buồn, chỉ có nỗi buồn là có thật cho dù ở làng hay ở phố. Tất cả những gì được vỡ ra, đều phải đánh đổi bằng tổn thương và chua xót.

Nhưng…

Đi qua những tổn thương, vỡ ra một điều không có nghĩa đã là đi đến tận cùng của một tuổi trẻ. Những sự vỡ đó, dù chỉ là trong một khoảnh khắc giật mình hay chỉ tới sau những trải nghiệm có khi dài bằng nửa đời người, cũng vẫn chỉ là một phân cảnh rất nhỏ trong bộ phim chưa hồi kết Tuổi hai mươi yêu dấu. Những đứa trẻ từ làng vẫn cứ mãi bị những ám ảnh từ quá khứ lam lũ, thô ráp của chúng, vẫn cứ mãi bế tắc để biểu đạt mình. Vẫn có một tảng hóa thạch nặng nề từ nghìn năm đè lên vai chúng, và nỗi mặc cảm là thứ hãy còn, nhưng ước mơ lại là thứ được cất lên, bởi Chương vẫn còn đi mãi để tìm đường tới biển và gọi tên người con gái thủy thần. Mãi mãi còn đó một bóng hình Mẹ Cả chưa từng bị vỡ ra dù cuộc đời oái oăm này nhiều phen đã phủ định và đập nát những chàng trai, cô gái từ làng. Hóa ra, cho đến tận cùng, vẫn là những huyền thoại từ bãi mía, bờ sông che chở cho những đứa trẻ.

“Tôi sinh ra ở nông thôn. Và mẹ tôi là người nông dân,….” đó có thể không phải mở đầu của tất cả những truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết tặng cho tuổi trẻ. Nhưng một khi nó thực sự đã bắt đầu theo cách như vậy, hãy tin rằng, những cái “tôi” thật trẻ đó, rồi một ngày chúng sẽ sải bước đi thật xa.

Vũ Kiều Chinh.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s